Chúng ta đang sống trong những ngày tháng mà tinh thần chuyển đổi số quốc gia lan tỏa mạnh mẽ từ cơ quan quản lý nhà nước, các ngành y tế, giáo dục, tài chính- ngân hàng cho đến từng doanh nghiệp và mỗi hộ gia đình.
Tuy nhiên, khi mọi giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại và thủ tục hành chính đều đang dịch chuyển với tốc độ bứt phá trên môi trường trực tuyến, câu hỏi “Bạn là ai trên không gian mạng?” không còn là một thắc mắc kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành một bài toán cấp thiết về quản lý nhà nước và an ninh pháp lý. Nếu không có một “danh tính số” được pháp luật bảo vệ và công nhận, mọi nỗ lực số hóa toàn diện sẽ bị vướng mắc ngay từ khâu xác thực đầu tiên.
Chính trong bối cảnh toàn dân, toàn quân đang dốc lực cho công cuộc chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng và ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử không đơn thuần là sự bổ sung một mảnh ghép còn thiếu cho hệ thống pháp luật, mà là một bước đột phá chiến lược mang tính định hình tương lai.
Việc xây dựng dự án Luật nhằm bảo đảm thể chế hoá đầy đủ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, minh bạch, bình đẳng, thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu cấp bách của thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
1. Sự cần thiết xây dựng Luật
1.1. Cơ sở chính trị, pháp lý
Việc xây dựng Luật dựa trên các chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; các nghị quyết, kết luận, chỉ thị quan trọng của Đảng, các định hướng về cải cách tư pháp, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Nổi bật là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, xác định một trong ba đột phá chiến lược là: “Đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số, trong đó tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; thiết lập bộ dữ liệu số Chính phủ, tạo nền tảng cho kinh tế số, xã hội số phát triển”. Trong Chính phủ số, mọi tương tác giữa người dân và chính quyền đều diễn ra trên môi trường mạng. Theo đó, định danh và xác thực điện tử chính là công cụ để Nhà nước xác định chính xác chủ thể đang thực hiện các thủ tục, giao dịch, từ đó thay thế hoàn toàn việc phải hiện diện trực tiếp hoặc dùng giấy tờ vật lý, từ đó yêu cầu phải có một khung pháp lý hoàn thiện, thống nhất về định danh và xác thực điện tử, giúp các cơ quan nhà nước có căn cứ cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao giúp Chính phủ.
Ngoài ra là Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/07/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược An ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/09/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/08/2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị; Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về việc thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của Hệ thống chính trị; Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27/8/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị; Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02/02/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giao trực tiếp Bộ Công an chủ trì “Nghiên cứu, lập đề nghị xây dựng Luật Định danh và xác thực điện tử, báo cáo Chính phủ để đề xuất Quốc hội xem xét, bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2026, hoàn thành trong quý I/2026”.
1.2. Cơ sở pháp lý
- Điều 21 Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được Pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.
- Luật Căn cước năm 2023, được sửa đổi bởi Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến an ninh trật tự (gọi chung là Luật Căn cước), tại khoản 17 Điều 3, Điều 31 đã xác lập địa vị pháp lý của danh tính điện tử, Luật Định danh và xác thực điện tử đóng vai trò là quy trình kỹ thuật và quy trình pháp lý để vận hành Căn cước điện tử.
- Luật Giao dịch điện tử năm 2023, tại Điều 22 và khoản 1 Điều 23 đã cung cấp phương tiện giúp danh tính điện tử có thể tham gia vào các hợp đồng, giao kết pháp lý, đồng thời, nó cũng là một trong những căn cứ để Luật Định danh và xác thực điện tử dựa vào đây để quy định các cấp độ xác thực phù hợp với từng loại giao dịch, từng loại hình giao tiếp từ đó tạo điều kiện cho kinh tế số vận hành không cần giấy tờ.
- Khoản 5 Điều 4 Luật An ninh mạng năm 2025 là cơ sở để triển khai hoạt động định danh, xác thực điện tử an toàn, đồng thời làm căn cứ xử lý các hành vi giả mạo danh tính, xâm phạm an ninh mạng.
- Mặc dù là văn bản dưới Luật, nhưng Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 quy định về định danh và xác thực điện tử (thay thế Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022) là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất để hình thành nên Luật Định danh và xác thực điện tử. Đây là lần đầu tiên các thành tố của danh tính điện tử của cá nhân và danh tính điện tử của cơ quan, tổ chức được định nghĩa rõ ràng. Việc nâng lên thành Luật là để đảm bảo tính ổn định lâu dài và thẩm quyền cưỡng chế cao hơn so với một Nghị định của Chính phủ.
2. Cơ sở thực tiễn
Sau hơn 03 năm triển khai Nghị định số 59/2022/NĐ-CP và Nghị định số 69/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng, từng bước hình thành nền tảng nhận diện số cho người dân, phục vụ quá trình chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, qua thực tiễn tổ chức triển khai vẫn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc chưa được giải quyết triệt để như: (1) phạm vi điều chỉnh của Nghị định chủ yếu tập trung vào định danh và xác thực điện tử trong nước, trong khi thực tiễn phát sinh nhu cầu sử dụng tài khoản định danh điện tử, ứng dụng VNeID và các dịch vụ, tiện ích số trên môi trường xuyên biên giới. Nghị định chưa có quy định đầy đủ về quản lý, kết nối, chia sẻ và sử dụng dữ liệu định danh điện tử trong các hoạt động xuyên biên giới, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện và hợp tác quốc tế; (2) Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng cho thấy tình trạng sử dụng thông tin giả mạo, mua bán, cho thuê tài khoản ngân hàng, ví điện tử, SIM thuê bao và tài khoản trên các nền tảng số vẫn diễn biến phức tạp. Trong khi đó, Nghị định chưa có quy định về định danh đối với một số nền tảng số, nền tảng mạng xã hội có lượng người dùng lớn, đặc biệt là các nền tảng cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, dẫn đến khó khăn trong xác thực danh tính người sử dụng, truy vết, xử lý vi phạm và phòng ngừa tội phạm; (3) Sự phát triển nhanh của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), đã làm xuất hiện các phương thức giả mạo danh tính bằng công nghệ Deepfake, Deepvoice và các hình thức giả mạo sinh trắc học khác với mức độ ngày càng tinh vi. Trong khi đó, các quy định hiện hành chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, yêu cầu xác thực nâng cao và cơ chế quản lý rủi ro phù hợp đối với các phương thức giả mạo mới này.
Bên cạnh đó, với tính chất là văn bản quy định chi tiết thi hành luật, Nghị định số 69/2024/NĐ-CP chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc mở rộng phạm vi, đối tượng và mô hình định danh, xác thực điện tử đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số quốc gia. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.
2. Bố cục của dự thảo Luật
Dự thảo Luật gồm 8 chương, 48 điều, cụ thể như sau:
- Chương I: Quy định chung bao gồm các Điều: Điều 1. Phạm vi điều chỉnh; Điều 2. Đối tượng áp dụng; Điều 3. Giải thích từ ngữ; Điều 4. Nguyên tắc định danh và xác thực điện tử; Điều 5. Nguyên tắc áp dụng Luật; Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm.
- Chương II: Định danh và danh tính điện tử bao gồm các Điều: Điều 7. Đối tượng định danh điện tử; Điều 8. Mô hình thực hiện hoạt động định danh điện tử; Điều 9. Hoạt động định danh điện tử; Điều 10. Đăng ký định danh điện tử; Điều 11. Thu thập, kiểm tra, đối soát và chuẩn hóa thông tin về đối tượng; Điều 12. Cấp mã định danh; Điều 13. Phân loại danh tính điện tử; Điều 14. Lưu trữ thông tin về danh tính điện tử; Điều 15. Cập nhật thông tin về danh tính điện tử; Điều 16. Khai thác danh tính điện tử và giá trị sử dụng; Điều 17. Tạm dừng hiệu lực danh tính điện tử; Điều 18. Hủy bỏ danh tính điện tử và mã định danh; Điều 19. Chấm dứt hiệu lực của danh tính điện tử và mã định danh; Điều 20. Liên kết danh tính điện tử.
- Chương III: Xác thực danh tính điện tử bao gồm các Điều: Điều 21. Đối tượng xác thực điện tử; Điều 22. Mô hình thực hiện hoạt động xác thực điện tử; Điều 23. Hoạt động xác thực điện tử; Điều 24. Tiếp nhận yêu cầu và xác định đối tượng xác thực; Điều 25. Xác định mức độ xác thực điện tử; Điều 26. Lựa chọn phương tiện xác thực điện tử; Điều 27. Kiểm tra phương tiện xác thực điện tử; Điều 28. Ghi nhận và lưu trữ kết quả xác thực; Điều 29. Sử dụng kết quả xác thực điện tử; Điều 30. Chứng thư điện tử xác nhận thông tin; Điều 31. Xác thực và truy vết danh tính điện tử.
- Chương IV: Hệ thống và nền tảng định danh và xác thực điện tử quốc gia bao gồm các Điều: Điều 32. Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia; Điều 33. Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử, nền tảng định danh và xác thực điện tử và ứng dụng định danh quốc gia; Điều 34. Thu thập, cập nhật, đồng bộ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Điều 35. Khai thác và sử dụng dữ liệu định danh điện tử quốc gia; Điều 36. Phí khai thác và sử dụng dữ liệu định danh điện tử quốc gia.
- Chương V: Dịch vụ định danh và xác thực điện tử bao gồm các Điều: Điều 37. Dịch vụ định danh và xác thực điện tử; Điều 38. Điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử; Điều 39. Xử lý trong trường hợp tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử chấm dứt hoạt động.
- Chương VI: Liên thông và hợp tác quốc tế bao gồm các Điều: Điều 40. Công nhận danh tính điện tử và kết quả xác thực nước ngoài; Điều 41. Giao dịch xuyên biên giới và hợp tác quốc tế
- Chương VII: Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bao gồm các Điều: Điều 42. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước; Điều 43. Trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử; Điều 44. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể danh tính điện tử; Điều 45. Hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động định danh và xác thực.
- Chương VIII: Điều khoản thi hành bao gồm các Điều: Điều 46. Sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan; Điều 47. Điều khoản chuyển tiếp; Điều 48. Hiệu lực thi hành./.
Bài: Trung tá Trịnh Xuân Hùng, Phòng Hành chính tổng hợp.