Truyền thống hào hùng, lịch sử vẻ vang
Từ khi ra đời vào mùa Xuân năm 1930 đến nay, Đảng ta đã trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng và 13 kỳ đại hội. Mỗi kỳ đại hội Đảng là một dấu mốc lịch sử, gắn với sự trưởng thành, phát triển và lớn mạnh của Đảng ta.
Năm nay, chúng ta kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng khi Đại hội lần thứ XIV của Đảng vừa diễn ra và thành công tốt đẹp. Vinh dự, tự hào về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 40 năm đổi mới, chúng ta càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng khi ôn lại các kỳ Đại hội và những quyết sách lịch sử của Đảng ta.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 2/1930. (Tranh của họa sĩ Phi Hoanh).
Hội nghị thành lập Đảng, diễn ra từ 6/1 - 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, được Đảng ta coi như một kỳ Đại hội Đảng, bởi Hội nghị đã quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Những quyết định của Hội nghị là cơ sở để Hội nghị Trung ương (10/1930) đổi tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương; thông qua Cương lĩnh, Điều lệ Đảng chính thức; bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức và bầu Tổng Bí thư.
Đại hội I của Đảng, diễn ra tháng 3/1935, tại Ma Cao, Trung Quốc. Sau khi ra đời và dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trong cả nước. Thực dân Pháp đã tiến hành khủng bố trắng và đàn áp dã man các phong trào cách mạng; nhiều tổ chức cơ sở đảng bị vỡ; nhiều đảng viên bị địch bắt, tù đày, tra tấn dã man; nhiều cán bộ cốt cán của Đảng bị giặc sát hại.
Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã quyết định Đảng rút vào hoạt động bí mật và đề ra chủ trương, giải pháp củng cố, khôi phục, phát triển tổ chức đảng; đẩy mạnh phong trào đấu tranh, tích cực chuẩn bị cho cao trào cách mạng 1936 -1939 và 1939 - 1945.
Đại hội II của Đảng, diễn ra tháng 2/1951, tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang.Đại hội đã quyết định: Tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành 3 Đảng ở ba nước. Đảng ta lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam và quyết định ra hoạt động công khai để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đại hội III của Đảng, diễn ra tháng 9/1960, tại Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện CTQG Hồ Chí Minh. Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở Miền Bắc và đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Từ những quyết sách của Đại hội, Miền Bắc đã tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, là hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn Miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc năm 1975.
Đại hội IV của Đảng, diễn tháng 12/1976, tại Ba Đình, Hà Nội. Đây là Đại hội thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đại hội quyết định: Đổi tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; đề ra nhiệm vụ trọng tâm là cải tạo XHCN và hàn gắn vết thương chiến tranh; khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Đại hội V của Đảng, diễn ra tháng 3/1982, tại Hà Nội. Đại hội đề ra chủ trương, giải pháp để xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời, giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống xã hội; tổ chức lại sản xuất để ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân; xây dựng cơ chế quản lý kinh tế mới trong phân phối, lưu thông; xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN; v.v.
Đại hội VI của Đảng, diễn ra tháng 12/1986, tại Hà Nội. Với tinh thần đổi mới và “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã nghiêm khắc tự phê bình về những khuyết điểm của Đảng; rút ra bài học kinh nghiệm hàng đầu là quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Đại hội khởi xướng sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế; tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng; xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; thực hiện “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”; v.v.
Đại hội VII của Đảng, diễn ra tháng 6/1991, tại Hà Nội. Trước những biến động to lớn, toàn diện và sâu sắc của tình hình chính trị thế giới, nhất là sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên xô, Đại hội đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta”; khẳng định phải kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc về xây dựng Đảng.
Đại hội VIII và IX của Đảng, diễn ra tháng 7/1996 và tháng 4/2001, tại Hà Nội. Đại hội đã đánh giá kết quả 10 năm, 15 năm thực hiện đường lối đổi mới; quyết định “Đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”; xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là: “Thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.
Đại hội X của Đảng, diễn ra tháng 4/2006, tại Hà Nội. Đại hội tổng kết 20 năm đổi mới; đề ra giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh công cuộc đổi mới; sửa đổi Điều lệ Đảng và bổ sung 2 nguyên tắc tổ chức của Đảng: Gắn bó mật thiết với nhân dân; hoạt động trong khuôn khổ HP và pháp luật.
Đại hội XI của Đảng, diễn ra tháng 1/2011, tại Hà Nội. Đại hội tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và thông qua Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011); đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; v.v.
Đại hội XII của Đảng, diễn ra tháng 1/2016, tại Hà Nội. Đại hội đề ra chủ trương: Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đại hội XIII của Đảng, diễn ra từ ngày 26/1 đến 1/2/2021 tại Hà Nội. Đại hội đánh giá tình hình đất nước sau 35 năm đổi mới; bổ sung, hoàn thiện mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Đại hội đề ra nhiệm vụ:“Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đại hội khẳng định:“Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, khơi dậy niềm tự hào, tự tin và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Đại hội XIV của Đảng mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
Đại hội đạị biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19- 23/1/2026 tại Hà Nội đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, bởi Đại hội lần này không chỉ tổng kết chặng đường phát triển đất nước 5 năm qua; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cho 5 năm tới, kỷ niệm 100 thành lập Đảng, mà điều có ý nghĩa sâu sắc hơn là Đại hội tổng kết 40 năm đổi mới, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở định hình tư duy chiến lược, định hướng phát triển đất nước đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước.
Kế thừa tinh hoa các Đại hội trước và bám sát yêu cầu thực tiễn, Chủ đề Đại hội được xác định là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Cùng với đó, phương châm chỉ đạo Đại hội cũng được bổ sung, phát triển và xác định là: “Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển”. Việc xác định chủ đề và phương châm Đại hội như vậy, không chỉ khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn và tư duy chiến lược của Đảng ta, mà còn thể hiện niềm tin vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu với quyết tâm chính trị cao, hành động mạnh mẽ, quyết liệt và hiệu quả, sớm đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.
Trước mắt, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Đại hội đề ra, nhất là những nội dung mới, cho cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động trong Đảng và đồng thuận trong xã hội, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tự tin, tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Cùng với đó, các cấp ủy cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện chương trình hành động, kế hoạch công tác một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm và đề ra các giải pháp đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân theo tinh thần rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả.
Trong quá trình thực hiện, cần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, đã nói phải làm, “nói là làm ngay, làm đúng, làm tốt, làm quyết liệt, làm đến cùng và hiệu quả”, như ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội.
Đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực; khắc phục tư tưởng cục bộ, ngại khó, ngại khổ, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; đồng thời, đề cao tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của cán bộ, đảng viên.
Nguồn: Báo CAND