Thứ Sáu, 31/7/2026
“ĐOÀN KẾT – DÂN CHỦ - KỶ CƯƠNG – TRÁCH NHIỆM – HIỆU QUẢ”
Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang báo cáo tại phiên họp
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 09/7/2026 (
Nguồn: Báo Đại đoàn kết)

1. Sự cần thiết của việc ban hành Nghị quyết

1.1. Cơ sở thực tiễn

Việc xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trong thời gian qua còn nhiều khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:

Một là, thực tiễn thời gian qua cho thấy, trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong các lĩnh vực đầu tư, quản lý vốn, tài sản nhà nước, đất đai, tài chính, ngân sách, mua sắm công, cổ phần hóa, đấu thầu, hợp tác công - tư, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đã phát sinh nhiều vụ việc vi phạm pháp luật có tính chất phức tạp. Trong khi đó, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, hoạt động quản lý nhà nước còn nặng về tiền kiểm, xin - cho, trong khi yêu cầu phát triển đòi hỏi phải ra quyết định nhanh, linh hoạt, sáng tạo.

Hai là, trong khu vực kinh tế nhà nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư công, quản lý tài sản công, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, quá trình thực hiện nhiệm vụ thường gắn với khối lượng tài sản lớn, thủ tục nhiều tầng nấc, chịu sự điều chỉnh của nhiều luật chuyên ngành. Trên thực tế, có trường hợp vi phạm xuất phát từ động cơ vụ lợi, tham nhũng, cố ý làm trái để chiếm đoạt, gây thất thoát tài sản nhà nước; nhưng cũng có trường hợp phát sinh do quy định pháp luật chưa rõ, thay đổi chính sách, yêu cầu xử lý tình huống cấp bách, rủi ro khách quan của thị trường hoặc quyết định quản trị kinh doanh không đạt kết quả như dự kiến. Nếu áp dụng cơ chế xử lý đồng nhất, không phân hóa đầy đủ giữa tham nhũng, tư lợi, cố ý gây thiệt hại với sai sót thủ tục, rủi ro khách quan, quyết định vì mục tiêu phát triển, sẽ dẫn đến tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm, né tránh quyết định, không dám đổi mới, không dám triển khai các dự án lớn, nhiệm vụ khó.
Hệ quả là nguồn lực nhà nước bị đình trệ, dự án kéo dài, tài sản không được khai thác hiệu quả, chi phí xã hội tăng lên.

Ba là, khu vực kinh tế tư nhân hiện là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia; khu vực này có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy kinh tế tư nhân vẫn gặp nhiều rào cản về tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao; nhiều quy định còn chồng chéo, điều kiện kinh doanh còn bất cập, chi phí tuân thủ cao, môi trường pháp lý chưa thật sự ổn định, dễ dự báo.

Bốn là, hiện nay nhiều dự án, công trình, chương trình đầu tư có liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ bị đình trệ do vướng mắc pháp lý, kết luận thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố hoặc do chưa có cơ chế xử lý hậu quả phù hợp. Khi dự án bị kéo dài, hậu quả không chỉ là vi phạm pháp luật chưa được xử lý dứt điểm, mà còn là lãng phí nguồn lực xã hội, tài sản xuống cấp, mất cơ hội đầu tư, giảm thu ngân sách, ảnh hưởng môi trường kinh doanh.

Việc xử lý vi phạm pháp luật phải bảo đảm nguyên tắc mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật; không bỏ lọt tội phạm; không để thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước; không tạo cơ chế “hợp thức hóa sai phạm”. Mặt khác, trong bối cảnh đất nước đang thúc đẩy tăng trưởng nhanh, chuyển đổi mô hình phát triển, đẩy mạnh kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo, thì pháp luật cũng phải có cơ chế bảo vệ quyết định đúng động cơ, đúng mục tiêu, có lợi ích chung nhưng gặp rủi ro khách quan hoặc vướng mắc thể chế. Do đó, cần tạo cơ chế pháp lý đặc biệt để xử lý đúng bản chất hành vi, đúng động cơ, đúng hậu quả; thu hồi tối đa tài sản; tháo gỡ dự án, nguồn lực bị ách tắc; củng cố niềm tin của doanh nghiệp, cán bộ, nhà khoa học, nhà đầu tư; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế trong khuôn khổ pháp luật.

1.2. Cơ sở chính trị

Việc xây dựng, ban hành Nghị quyết dựa trên các nghị quyết, kết luận, chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới và về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cụ thể là:

- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới;

- Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung;

-  Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 

- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đề ra chủ trương: "Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển".

- Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;

- Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

1.3. Cơ sở pháp lý

- Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện hành có nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, như tại Chương II Hiến pháp năm 2013, Chương I, Chương IV, Chương V Bộ luật Hình sự, Chương II Bộ luật Tố tụng hình sự...

- Chương IV của Bộ luật Hình sự quy định về 07 trường hợp về loại trừ trách nhiệm hình sự và quy định về 03 trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29); tuy nhiên, các quy định này chưa đáp ứng được yêu cầu, chủ trương mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đề ra tại các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

- Bộ luật Tố tụng hình sự đã có một số quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn để thực hiện các quy định nêu trên của Bộ luật Hình sự về loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự như: Điều 157 (căn cứ không khởi tố vụ án hình sự), Điều 229 (tạm đình chỉ điều tra), Điều 230 (đình chỉ điều tra), Điều 247 (tạm đình chỉ vụ án), Điều 248 (đình chỉ vụ án), điểm c khoản 1 Điều 277 (tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án), Điều 281 (tạm đình chỉ vụ án), Điều 282 (đình chỉ vụ án)…

- Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng có các quy định liên quan đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

2. Mục đích ban hành Nghị quyết

Việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương về xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực này theo các nghị quyết, kết luận của Đảng và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng xử lý dứt điểm các vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhằm bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

3. Quan điểm xây dựng Nghị quyết

- Bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, thấu tình, đạt lý, đúng người, đúng vi phạm, thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Đảng, Nhà nước.

- Bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm, bối cảnh lịch sử cụ thể, hậu quả, kết quả khắc phục hậu quả và hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp.

- Phân định rõ giữa trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự; giữa trách nhiệm hành chính với trách nhiệm dân sự; giữa trách nhiệm của pháp nhân với trách nhiệm của cá nhân; xử lý nghiêm hành vi tham nhũng; khoan hồng, giảm nhẹ các hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục hậu quả; ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng.

- Tách bạch giữa xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với các dự án, công trình liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

- Không áp dụng các quy định trong Nghị quyết này để xem xét lại các bản án hình sự, quyết định xử lý kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Xử lý nghiêm hành vi lợi dụng các quy định của Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm.

4. Bố cục của Nghị quyết

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gồm 03 chương, 13 điều với các nội dung cụ thể như sau:

- Chương I: Có 04 điều (từ Điều 1 đến Điều 4) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ. 

Theo đó, Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật nêu trên. 

Nghị quyết này quy định 06 nhóm nguyên tắc thực hiện và giải thích 09 thuật ngữ gồm: không tham nhũng; vì lợi ích chung; hậu quả thiệt hại; khắc phục hậu quả thiệt hại; mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước; vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 

- Chương II: Có 07 điều (từ Điều 5 đến Điều 11) quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Chương này có 04 điều để quy định về chính sách xử lý hình sự gồm: (1) Không truy cứu trách nhiệm hình sự; (2) loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; (3) tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và (4) miễn trách nhiệm hình sự. Đồng thời, để thực hiện các chính sách hình sự này, Điều 9, Điều 10 dự thảo Nghị quyết quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự để thực hiện.

Bên cạnh đó, để bảo đảm tương ứng với việc xử lý hình sự, Điều 11 dự thảo Nghị quyết quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang tương ứng với các điều kiện về các chính sách xử lý hình sự quy định từ Điều 5 đến Điều 8 Nghị quyết này. 

- Chương III: Có 02 điều (Điều 12 và Điều 13) quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.

Nghị quyết dự kiến được thực hiện trong 03 năm. Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 02 năm). Điều 13 Nghị quyết quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện Nghị quyết./.

Bài: Trung tá Trịnh Xuân Hùng, Cán bộ Phòng HCTH

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi