Từ ngày 01/7/2025, mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp chính thức hoạt động. Do đó, cần phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của lực lượng Công an nhân dân chịu tác động bởi kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang
trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến
an ninh, trật tự tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, ngày 31/10/2025
(Nguồn: Báo Thanh tra điện tử)
Qua rà soát có 10 luật về quản lý hành chính liên quan đến hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, gồm: Luật Cảnh vệ, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Căn cước, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Đường bộ, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Bên cạnh những nội dung cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, quá trình thực hiện Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Cư trú, Luật Căn cước, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Đường bộ, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ gặp một số khó khăn, vướng mắc cần xử lý, tháo gỡ kịp thời để đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn và quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
* Đối với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam:
- Hiện nay, Luật Công nghiệp công nghệ số, Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng quy định cụ thể như sau:
(1) Khoản 2 Điều 19 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định “nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao là người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú có thời hạn 05 năm và được gia hạn theo quy định pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi của nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao là người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú với thời hạn tương ứng với thời hạn cấp cho nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao; được chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tạo điều kiện, hỗ trợ về thủ tục khi tìm kiếm việc làm và tuyển sinh, học tập tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam”.
(2) Khoản 1 Điều 20 Nghị quyết số 222/2025/QH15 quy định “cấp thị thực, thẻ tạm trú thời hạn đến 10 năm cho người nước ngoài là nhà đầu tư quan trọng, chuyên gia, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc cho cơ quan, tổ chức có trụ sở trong Trung tâm tài chính quốc tế (ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú là UĐ1) và thành viên gia đình đi cùng (ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú là UĐ2)".
(3) Khoản 9 Điều 3 Nghị quyết số 226/2025/QH15 quy định “Ký hiệu thị thực, ký hiệu thẻ tạm trú cấp cho người nước ngoài: a) UĐ1 - Cấp cho người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu TMTD; b) UĐ2 - Cấp cho vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi của người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu TMTD”; điểm đ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết này quy định “miễn thị thực và cấp thẻ tạm trú 10 năm cho người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao (ký hiệu UĐ1) và các thành viên gia đình (ký hiệu UĐ2) làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu TMTD”.
Do đó, cần thiết bổ sung đối tượng thuộc diện ưu đãi UĐ1 và UĐ2 là đối tượng được cấp thị thực tại Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
- Để thống nhất với việc bổ sung đối tượng người nước ngoài thuộc diện ưu đãi UĐ1 và UĐ2 theo quy định của Luật Công nghiệp công nghệ số hoặc quy định khác do Quốc hội ban hành và phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 19 của Luật Công nghiệp công nghệ số cần bổ sung quy định về điều kiện cấp thị thực cho người nước ngoài thuộc diện ưu đãi;
- Nghị quyết số 227/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, cụ thể, tại mục 9 Nghị quyết này quy định “miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Giao Chính phủ quy định cụ thể và chỉ đạo nghiên cứu để trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan, đáp ứng yêu cầu thực tiễn" ; theo đó, cần thiết bổ sung quy định về trường hợp được miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt như trên.
- Khoản 2 Điều 19 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định “nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao là người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú có thời hạn 05 năm và được gia hạn theo quy định pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi của nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao là người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú với thời hạn tương ứng với thời hạn cấp cho nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao; được chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tạo điều kiện, hỗ trợ về thủ tục khi tìm kiếm việc làm và tuyển sinh, học tập tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 20 Nghị quyết số 222/2025/QH15 quy định “cấp thị thực, thẻ tạm trú thời hạn đến 10 năm cho người nước ngoài là nhà đầu tư quan trọng, chuyên gia, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc cho cơ quan, tổ chức có trụ sở trong Trung tâm tài chính quốc tế (ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú là UĐ1) và thành viên gia đình đi cùng (ký hiệu thị thực, thẻ tạm trú là UĐ2)”. Điểm đ khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 226/2025/QH15 quy định “miễn thị thực và cấp thẻ tạm trú 10 năm cho người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao (ký hiệu UĐ1) và các thành viên gia đình (ký hiệu UĐ2) làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu TMTD”.
Theo đó, để tạo điều kiện cho người nước ngoài và doanh nghiệp và phù hợp với thực tiễn, cần thiết bổ sung quy định về thời hạn thị thực là không quá 05 năm, thời hạn thẻ tạm trú là không quá 10 năm đối với người nước ngoài thuộc diện ưu đãi theo quy định của Luật Công nghiệp công nghệ số hoặc quy định khác do Quốc hội ban hành và người nước ngoài là vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của họ.
- Về cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ thường trú thuộc thẩm quyền của Công an cấp tỉnh, qua thực tiễn cho thấy, cần thiết giao Bộ trưởng Bộ Công an quyết định trường hợp cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ thường trú tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh vì lý do ngoại giao, quốc phòng, an ninh để đáp ứng yêu cầu của công tác ngoại giao, quốc phòng, an ninh.
- Theo quy định hiện hành, cháu có thể bảo lãnh cho ông, bà nhưng ông, bà không được bảo lãnh cho cháu; trong khi, Luật Quốc tịch đã mở rộng đối tượng được nhập quốc tịch Việt Nam đến cháu nội, cháu ngoại; bên cạnh đó, thực tiễn có nhiều trường hợp ông, bà có nhu cầu bảo lãnh cho cháu về thăm quê hương cùng gia đình, vì vậy, cần thiết bổ sung quy định ông, bà có quyền mời, bảo lãnh cho cháu để bảo đảm tính thống nhất, phù hợp thực tiễn.
- Để hoàn thiện cơ sở pháp lý theo quy định tại Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử, cần thiết bổ sung quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong cấp, sử dụng định danh cho người nước ngoài.
* Đối với Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam:
- Cần thiết bỏ các yêu cầu liên quan đến cung cấp, thu thập số chứng minh nhân dân tại Luật để thống nhất với quy định của Luật Căn cước; đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người thực hiện thủ tục cấp, gia hạn hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ trong nước.
- Cần thiết quy định giá trị sử dụng 01 lần đối với hộ chiếu phổ thông cấp theo thủ tục rút gọn.
- Về quy định trường hợp chưa cấp giấy tờ xuất nhập cảnh, cần loại trừ việc chưa được cấp giấy tờ xuất nhập cảnh đối với trường hợp thuộc diện tạm hoãn xuất cảnh mà người đó đang ở nước ngoài vì trên thực tế, trường hợp này vẫn cần cấp hộ chiếu để về nước theo yêu cầu của cơ quan chức năng.
- Trong các trường hợp thu hồi, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu cần bổ sung thêm các trường hợp bị thu hồi, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu để phù hợp với thực tiễn, cụ thể gồm: Hủy giá trị sử dụng của hộ chiếu phổ thông còn thời hạn đối với trường hợp đã được cấp hộ chiếu mới; thu hồi, hủy giá trị sử dụng của hộ chiếu của người đã được cấp nhưng bị sai thông tin chi tiết nhân thân; hủy giá trị sử dụng hộ chiếu của người đang bị truy nã. Đối với trường hợp người bị truy nã thì không rõ họ đang ở trong nước hay ở nước ngoài, nếu họ đang ở nước ngoài thì cấp hộ chiếu theo quy định tại Điều 17 Luật này để đưa họ về nước. Đồng thời, để thống nhất với việc bổ sung thêm các trường hợp thu hồi, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu nêu trên, cần bổ sung quy định về quy trình, cách thức áp dụng đối với từng trường hợp thu hồi, hủy giá trị sử dụng mới phát sinh.
- Hiện Luật chưa quy định trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong cấp công hàm hỗ trợ xin thị thực do Cơ quan Lãnh sự Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan được Bộ Ngoại giao ủy quyền thực hiện. Vì vậy, cần thiết bổ sung quy định trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong việc cấp công hàm hỗ trợ, xin thị thực để đảm bảo thực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao về xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam.
* Đối với Luật Cư trú:
- Đối với hồ sơ đăng ký thường trú: khoản 2 Điều 21 Luật Cư trú đã có quy định về việc phải có ý kiến đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, do đó, cần thiết bỏ nội dung yêu cầu trong tờ khai thay đổi thông tin cư trú phải ghi rõ ý kiến đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản.
- Đối với quy định về xóa đăng ký thường trú và xóa đăng ký tạm trú: cần thiết bổ sung trường hợp xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú đối với trường hợp huỷ bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam để phù hợp, thống nhất với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.
- Đối với quy định về thông báo lưu trú, cần thiết bổ sung trường hợp phải thông báo lưu trú đối với người quản lý phương tiện để phù hợp với thực tiễn, theo đó, việc lưu trú trên phương tiện cũng phải thông báo lưu trú.
* Đối với Luật Căn cước:
- Đối với khái niệm cơ quan quản lý căn cước (khoản 10 Điều 3): Cần liệt kê cụ thể các cơ quan quản lý căn cước trong Công an nhân dân để thống nhất thực hiện.
- Đối với quy định về thu hồi thẻ căn cước: Cần bổ sung trường hợp bị hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam để phù hợp, thống nhất với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.
- Hiện nay, Điều 33 Luật Căn cước quy định về giá trị sử dụng của căn cước điện tử không quy định nội dung: " Trường hợp người được cấp thẻ căn cước phải xuất trình thẻ căn cước theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp thẻ xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được in, tích hợp vào thẻ căn cước; trường hợp thông tin đã thay đổi so với thông tin trên thẻ căn cước, người được cấp thẻ phải cung cấp giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý chứng minh các thông tin đã thay đổi” tương tự như tại khoản 3 Điều 20 Luật Căn cước dẫn đến việc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn yêu cầu công dân phải xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được tích hợp vào căn cước điện tử. Theo đó, cần thiết bổ sung trường hợp người được cấp căn cước điện tử phải xuất trình căn cước điện tử theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không được yêu cầu người được cấp căn cước điện tử xuất trình giấy tờ hoặc cung cấp thông tin đã được tích hợp vào căn cước điện tử.
* Đối với Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ:
- Quy định về màu đèn tín hiệu ưu tiên đối với xe của lực lượng quân sự: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27, xe ưu tiên của lực lượng quân sự, công an, kiểm sát đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe Cảnh sát giao thông dẫn đường có thứ tự ưu tiên như nhau khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới. Như vậy, nếu quy định xe của lực lượng quân sự đi làm nhiệm vụ khẩn cấp có đèn nhấp nháy màu xanh và đỏ thì sẽ bảo đảm thống nhất, đồng bộ về màu đèn tín hiệu xe ưu tiên của lực lượng công an, quân sự, kiểm sát đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, xe Cảnh sát giao thông dẫn đường; đồng thời, phù hợp với thứ tự ưu tiên đối với xe của lực lượng quân sự, công an, kiểm sát đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe Cảnh sát giao thông dẫn đường so với các loại xe ưu tiên khác.
- Quy định về phương tiện giao thông thông minh:
+ Tại khoản 4, khoản 6 Điều 34, khoản 7 Điều 41: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 53/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 quy định về phân loại phương tiện giao thông đường bộ và dấu hiệu nhận biết xe cơ giới sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe ô tô QCVN 09:2024/BGTVT phù hợp với phân loại quốc tế ISO/SAE PAS 22736:2021 phân loại và định nghĩa đối với các thuật ngữ liên quan đến hệ thống tự lái của xe cơ giới. Theo đó, phương tiện giao thông thông minh được chia làm 5 cấp độ gồm:
(1) Xe cơ giới cho phép tự động hóa một phần hoạt động điều khiển phương tiện, xác định lộ trình và xử lý tình huống khi tham gia giao thông đường bộ là các xe thuộc cấp độ 1, cấp độ 2, cấp độ 3 theo tiêu chuẩn ISO/SAE PAS 22736:2021 (sau đây viết tắt là xe cơ giới tự động hóa một phần).
(2) Xe cơ giới cho phép tự động hóa toàn bộ hoạt động điều khiển phương tiện, xác định lộ trình và xử lý tình huống khi tham gia giao thông đường bộ là các xe thuộc cấp độ 4, hoặc cấp độ 5 được phân loại và định nghĩa trong tiêu chuẩn ISO/SAE PAS 22736:2021 (sau đây viết tắt là xe cơ giới tự động hóa toàn bộ).
Thực tế hiện nay rất nhiều xe ô tô con tầm trung, cao cấp nhập khẩu và sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam đã có chức năng hỗ trợ người lái đạt cấp độ 1 và tiệm cận cấp độ 2 theo tiêu chuẩn ISO/SAE PAS 22736:2021. Do đó, theo quy định tại khoản 4 Điều 34 thì các xe này được xếp vào nhóm phương tiện giao thông thông minh và phải cấp phép hoạt động theo quy định tại khoản 3 Điều 35.
+ Đối với các xe cơ giới thuộc cấp độ 1, cấp độ 2, thậm chí là cấp độ 3 (tự lái có điều kiện): về cơ bản chỉ là chức năng hỗ trợ, trợ giúp người lái trong một số điều kiện, tình huống, phạm vi nhất định, không thể thay thế hoàn toàn được người lái, ví dụ như: chức năng tự động giữ làn đường, giữ khoảng cách, phanh khẩn cấp, cảnh báo hoặc không cho phép chuyển làn khi có xe vượt, tự động đỗ vào vị trí để xe... các chức năng này giúp người lái giảm căng thẳng, mệt mỏi khi chạy đường dài, giữ khoảng cách an toàn, phát hiện sớm các nguy cơ, phản ứng nhanh trước các tình huống nguy hiểm đột ngột... nên về cơ bản là giúp tăng khả năng an toàn của xe trong khi di chuyển trên đường. Các chức năng này có thể được kích hoạt hay không phụ thuộc vào quyết định của người lái. Qua đánh giá thực trạng hoạt động trên đường thì loại xe này phù hợp để hoạt động theo điều kiện giao thông của Việt Nam hiện nay. Vì vậy, không nhất thiết phải hạn chế, cấp phép hoạt động các xe loại này.
+ Đối với các xe cơ giới thuộc cấp độ 4, cấp độ 5 (xe cơ giới tự động hóa toàn bộ): trên thế giới hiện nay chỉ có tại Trung Quốc thí điểm hoạt động xe taxi không người lái tại Vũ Hán, một số khu vực tại Trùng Khánh, Bắc Kinh, Thượng Hải nhưng vẫn trong giai đoạn đánh giá về độ an toàn, tin cậy, chưa phát triển đại trà được. Một số nước phát triển khác như Hoa Kỳ, EU mới thử nghiệm xe ô tô tự lái cấp độ 4 trong một phạm vi nhất định và vẫn phải yêu cầu có người lái hoặc người giám sát trên xe. Xét theo điều kiện giao thông của Việt Nam hiện nay thì loại xe cơ giới tự động hóa toàn bộ chưa phù hợp để hoạt động, có nguy cơ gây tai nạn cao, nên cần phải hạn chế, phải cấp phép hoạt động đối với các xe loại này (bao gồm cả các xe chạy thử nghiệm thuộc đối tượng nghiên cứu phát triển có nhu cầu tham gia giao thông đường bộ).
Theo đó, việc sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 34 là cần thiết và cấp bách để không gây gánh nặng về chi phí và thời gian thủ tục hành chính đối người sở hữu xe.
- Quy định về thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe:
+ Ngày 26/7/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về tăng cường công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đối với hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ trong tình hình mới, trong đó xác định “nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất trật tự, an toàn giao thông là do ý thức của người điều khiển phương tiện kinh doanh vận tải, bên cạnh đó còn có nguyên nhân liên quan đến công tác quản lý hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ”; đồng thời, yêu cầu: (1) Bộ Giao thông vận tải “thống nhất với Bộ Công an về mô hình quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình và camera giám sát trên xe kinh doanh vận tải để bảo đảm việc quản lý, giám sát theo thời gian thực, kịp thời đình chỉ hoạt động phương tiện vi phạm các quy định của pháp luật trong khi lưu thông, ngăn chặn nguy cơ mất an toàn giao thông”; (2) Bộ Công an “đẩy nhanh tiến độ ứng dụng khoa học công nghệ để khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, camera giám sát trên xe kinh doanh vận tải, thống nhất với Bộ Giao thông vận tải chuẩn bị phương án quản lý, khai thác dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, camera giám sát trên xe kinh doanh vận tải phù hợp với tiến độ triển khai Luật Đường bộ và Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ”.
+ Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý nhà nước, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên tuyến giao thông.
+ Qua 11 tháng triển khai thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, việc quản lý phương tiện kinh doanh vận tải thông qua thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, cụ thể:
(1) Xe ô tô kinh doanh vận tải dưới 08 chỗ chưa phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe nên chưa quản lý, giám sát được lái xe có các hành vi vi phạm pháp luật như: không thắt dây an toàn, buông cả hai tay khỏi vô lăng, dùng chân điều khiển vô lăng, dùng tay sử dụng điện thoại khi đang lái xe, chạy quá tốc độ…, chưa thể cảnh báo được lái xe khi lái xe có dấu hiệu bất thường, có khả năng mất an toàn như: ngủ gật, không tập trung… tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra tai nạn giao thông.
(2) Hiện tại, mặc dù ý thức của người tham gia giao thông đã được nâng lên rõ rệt, tai nạn giao thông đã giảm cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương; tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2025 đã liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn giao thông rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến các phương tiện kinh doanh vận tải. Điển hình như các vụ tai nạn giao thông do xe ô tô khách kinh doanh vận tải xảy ra tại các tỉnh Phú Yên, Sơn La, Hà Tĩnh trong thời gian vừa qua.
+ Về quy định xe vận tải nội bộ phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, đối tượng này về hình thức là vận chuyển người, hàng hóa của chính đơn vị, doanh nghiệp của mình nhưng bản chất tham gia giao thông như các loại phương tiện kinh doanh vận tải khác; đồng thời, các phương tiện vận chuyển người, hàng hóa này cũng là một nguồn nguy hiểm cao độ (chở nhiều người trên xe, xe vận chuyển hàng hóa lớn). Vì vậy, cần giám sát, quản lý người lái xe, quản lý hành trình để bảo đảm an toàn cho chính đối tượng này và các đối tượng khác tham gia giao thông đường bộ.
Do đó, việc bổ sung quy định xe kinh doanh vận tải phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; xe vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; xe ô tô chở người từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) kinh doanh vận tải phải lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở hành khách là rất cần thiết, cấp bách, nhằm tạo cơ sở pháp lý phục vụ việc theo dõi, quản lý, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật và hành vi gây mất an toàn đối với người điều khiển phương tiện kinh doanh vận tải, hành khách trên xe, ngăn ngừa, giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ nói chung và các vụ tai nạn giao thông rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nói riêng do phương tiện này gây ra.
- Quy định về bảo đảm chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, phụ tùng xe cơ giới trong nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp: Qua rà soát cho thấy hiện nay Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ chỉ quy định giao Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) quy định về cấp mới, cấp lại, tạm đình chỉ, thu hồi chứng chỉ đăng kiểm viên. Tuy nhiên, chưa có quy định về tiêu chuẩn, tập huấn làm cơ sở cho việc đánh giá năng lực, khả năng chuyên môn của đăng kiểm viên khi cấp, cấp lại, tạm đình chỉ, thu hồi chứng chỉ đăng kiểm viên. Do đó đã làm ảnh hưởng đến việc bổ sung lực lượng đăng kiểm viên có trình độ và chất lượng cho các cơ sở đăng kiểm.
- Quy định về trường hợp từ chối tư vấn kiểm định phương tiện của cơ sở đăng kiểm, chủ xe cơ giới, xe máy chuyên dùng và người điều khiển xe cơ giới, xe máy chuyên dùng: Thực tiễn hoạt động của các cơ sở đăng kiểm thời gian qua cho thấy việc chưa có quy định về trách nhiệm thực hiện chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới cải tạo, xe máy chuyên dùng cải tạo dẫn đến nhiều cơ sở đăng kiểm từ chối thực hiện dịch vụ này đã gây khó khăn, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong thực tiễn triển khai Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ cũng phát sinh một số trường hợp cần phải được quy định rõ ràng đối với việc từ chối kiểm định do chủ phương tiện có hành vi vi phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông hoặc cần thực hiện theo yêu cầu của các cơ quan tố tụng nhằm giải quyết tranh chấp hoặc xác định trách nhiệm hình sự của chủ phương tiện cũng như đảm bảo sự liên thông, kết nối dữ liệu giữa cơ quan đăng ký xe với cơ quan đăng kiểm phương tiện để đảm bảo công tác quản lý nhà nước đối với phương tiện được đồng bộ, chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, việc bổ sung quy định này nhằm làm rõ và minh bạch hoạt động kiểm định phương tiện. Vì vậy, việc bổ sung các trường hợp từ chối kiểm định là rất cần thiết.
- Quy định về nâng hạng giấy phép lái xe: Quy định hiện hành chưa cho phép người có giấy phép lái xe hạng cao hơn hạng C (D1, D2 và D) nâng hạng lên giấy phép lái xe hạng CE. Đồng thời, theo quy định tại điểm g, h, i khoản 1 Điều 57, hạng D1, D2 và D đều được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng C. Theo đó, cần bổ sung kịp thời việc nâng hạng lên CE từ các hạng D1, D2 và D để đảm bảo thống nhất trong quy định của pháp luật.
- Quy định về đào tạo lái xe, sát hạch lái xe, cấp và thu hồi giấy phép lái xe trong lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân: Để loại trừ phạm vi điều chỉnh đối với lực lượng Công an và Quân đội trong Nghị định số 160/2024/NĐ-CP ngày 18/12/2024 của Chính phủ quy định về hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe, do đây là đặc thù riêng của lực lượng Công an và Quân đội trong đào tạo cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng quốc phòng, an ninh, không phụ thuộc vào hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Chính phủ, cần giao Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về đào tạo lái xe, sát hạch lái xe, cấp và thu hồi giấy phép lái xe trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.
- Quy định về trường hợp thu hồi giấy phép lái xe: Cần thiết bổ sung trường hợp “người được cấp giấy phép lái xe có hành vi gian dối để được cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe” thì bị thu hồi giấy phép lái xe để đảm bảo quản lý chặt chẽ đối với việc cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe do những năm gần đây, việc mua bán giấy phép lái xe diễn ra phổ biến và có hiện tượng sử dụng giấy phép lái xe giả để đổi, cấp lại giấy phép lái xe.
- Quy định về thời gian lái xe của người lái xe ô tô: Theo kiến nghị của Hiệp hội vận tải và doanh nghiệp kinh doanh vận tải hiện nay thì việc quy định thời gian lái xe trong tuần, thời gian lái xe liên tục của Luật Trật tự, an toàn giao thông chưa phù hợp với quy định chung của một số nước trong khu vực và gây khó khăn cho hoạt động vận tải, bố trí lái xe của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu theo quy định của Luật. Đây là nội dung cần thiết sửa đổi theo hướng quy định thời gian làm việc của người lái xe trong một ngày, một tuần thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động để kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp vận tải, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
* Đối với Luật Đường bộ:
Về nội dung thẩm định, thẩm tra an toàn giao thông đường bộ, theo quy định hiện nay, tất cả các loại đường đều phải thực hiện thẩm tra, thẩm định an toàn giao thông bao gồm các đường có cấp kỹ thuật A, B, C, D, đường phố gom, đường nội bộ đô thị là chưa hợp lý, tạo gánh nặng cho cơ quan thẩm định, thẩm tra, cần thiết bỏ quy định thẩm tra, thẩm định về an toàn giao thông đối với về loại đường bộ nêu trên.
* Về các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính:
Qua rà soát và thực tiễn cho thấy, một số thủ tục hành chính còn phức tạp, nhiều bước làm phát sinh chi phí, thời gian cho cá nhân, tổ chức, trong khi, một số thủ tục hành chính không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Tại dự án Luật, đề xuất phương án sửa đổi quy định đối với 21 thủ tục hành chính để phù hợp với thực tiễn cũng như tạo điều kiện tối đa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó:
- Đối với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam:
+ Để phù hợp với định hướng cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ sử dụng tài khoản định danh để đăng nhập trên Cổng Dịch vụ công quốc gia thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh (khoản 4 Điều 40 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử), cần sửa đổi nội dung về thủ tục mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh (Điều 16) và thủ tục cấp thị thực điện tử theo đề nghị của cơ quan, tổ chức (Điều 16b). Đồng thời, cần bãi bỏ quy định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp thị thực cho người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài phải thanh toán với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh khoản cước phí để thực hiện việc thông báo cấp thị thực; bởi vì, hiện nay đã triển khai việc gửi thông báo cấp thị thực qua thư điện tử đến cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài.
+ Đối với thủ tục cấp đổi, cấp lại thẻ thường trú, đề xuất bỏ yêu cầu phải có đơn báo mất trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ thường trú đối với người nước ngoài để cắt giảm thành phần hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ thường trú, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nước ngoài.
- Đối với Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam:
+ Một số thủ tục hành chính gồm: Cấp, gia hạn hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ trong nước (Điều 12); cấp hộ chiếu phổ thông trong nước (Điều 15); cấp hộ chiếu phổ thông ở nước ngoài (Điều 16), quy định yêu cầu cung cấp bản chụp Chứng minh nhân dân không còn phù hợp với các quy định hiện hành.
+ Đề xuất bổ sung thủ tục hành chính về hủy giá trị sử dụng của hộ chiếu phổ thông cũ còn thời hạn đối với trường hợp đã được cấp hộ chiếu phổ thông mới và thu hồi, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu đã được cấp nhưng bị sai thông tin chi tiết nhân thân; hủy giá trị sử dụng hộ chiếu của người đang bị truy nã để thống nhất với các nội dung dự kiến bổ sung tại Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Đối với Luật Cư trú: Đối với thủ tục thông báo lưu trú (Điều 30), yêu cầu cung cấp số chứng minh nhân dân của người lưu trú không còn phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành gần đây như Luật Căn cước, vì vậy, cần thiết bỏ quy định cung cấp số chứng minh nhân dân của người lưu trú.
- Đối với Luật Căn cước: Cần thiết thay đổi quy định về trình tự, thủ tục cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước (Điều 25) theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người có thông tin trên thẻ căn cước thay đổi do sắp xếp đơn vị hành chính, người bị mất thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước bị hư hỏng không sử dụng được thực hiện cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước trực tuyến trên cổng dịch vụ công, ứng dụng định danh quốc gia hoặc trực tiếp tại nơi làm thủ tục cấp thẻ căn cước để phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Đối với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: Đề xuất bổ sung hình thức tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính trên Ứng dụng định danh điện tử quốc gia đối với các thủ tục gồm: Cấp giấy phép trang bị, giấy phép sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để triển lãm, trưng bày hoặc làm đạo cụ trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật đối với đối tượng không thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng thực hiện (Điều 14); thủ tục trang bị vũ khí thể thao (Điều 25); thủ tục cấp phép sử dụng vũ khí thể thao (Điều 26); khai báo vũ khí thô sơ là hiện vật trưng bày, triển lãm, làm đồ gia bảo (Điều 31); thủ tục cấp giấy phép kinh doanh công cụ hỗ trợ (Điều 50); thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu công cụ hỗ trợ (Điều 51); thủ tục trang bị công cụ hỗ trợ (Điều 53); thủ tục cấp giấy phép mua công cụ hỗ trợ (Điều 54); cấp giấy phép sử dụng, đăng ký, khai báo công cụ hỗ trợ (Điều 55); thủ tục cấp giấy phép vận chuyển công cụ hỗ trợ đối với đối tượng không thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng (Điều 56); thủ tục cấp giấy phép sửa chữa công cụ hỗ trợ (Điều 57) để thực hiện cải cách hành chính, tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân được thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
* Các nội dung liên quan đến phân cấp, phân quyền:
- Đối với Luật Đường bộ:
+ Tại điểm c khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 5, đề xuất phân cấp từ thẩm quyền của Chính phủ cho các bộ, ngành trong việc tổ chức lập, phê duyệt quy hoạch mạng lưới đường bộ, quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ.
+ Tại điểm a khoản 4 Điều 8 quy định Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý đường tỉnh, quốc lộ đi qua đô thị đặc biệt; quốc lộ khi được phân cấp; tuyến, đoạn tuyến quốc lộ đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng tuyến tránh thay thế phù hợp với quy hoạch mạng lưới đường bộ; tuyến, đoạn tuyến quốc lộ không còn trong quy hoạch mạng lưới đường bộ, trừ trường hợp quốc lộ có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm quốc phòng; tuyến, đoạn tuyến quốc lộ; để phù hợp với nội dung phân quyền quy định tại Nghị định số 144/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng, đề xuất phân cấp thẩm quyền từ Thủ tướng Chính phủ xuống cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng, theo đó Bộ trưởng Bộ Xây dựng có thẩm quyền giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các tuyến đường nêu trên.
- Tại khoản 3 Điều 27, cần phân cấp trách nhiệm công bố tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ của Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho cơ quan quản lý đường bộ thuộc Bộ Xây dựng và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền.
- Đối với Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: Tại khoản 4 Điều 19 Luật này, để bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền “giao cho các Bộ trưởng, trưởng ngành quyết định và chịu trách nhiệm về lĩnh vực thuộc bộ, ngành phụ trách”, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng giao Bộ trưởng Bộ Công an quyết định trang bị loại vũ khí quân dụng ngoài quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 19 Luật này; sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 62 Luật này theo hướng Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định việc cấp phép cho các tổ chức khác được phép thực hiện tìm kiếm vũ khí, vật liệu nổ./.
Bài: Trung tá Trịnh Xuân Hùng, Phòng Hành chính tổng hợp