
Sau hơn 07 năm triển khai thực hiện, Luật Đường sắt 2017 đã đạt được một số kết quả cụ thể như: xác định rõ các cơ chế, chính sách ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh đường sắt, phát triển công nghiệp đường sắt; trách nhiệm của Nhà nước trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt; vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường sắt; quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt... Tuy nhiên, quá trình triển khai thi hành Luật Đường sắt 2017 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế; đồng thời, thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải sớm sửa đổi, bổ sung Luật Đường sắt 2017 để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và ngành đường sắt nói riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Luật Đường sắt 2017 chưa có quy định về: (1) huy động nguồn lực của địa phương tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia; (2) đường sắt thông thường vận tải cả hành khách, hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; (3) hệ thống cấp điện sức kéo đường sắt; (4) việc đầu tư xây dựng, quản lý, bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật đấu nối với công trình đường sắt và sử dụng chung với đường sắt nhằm khai thác hiệu quả kết cấu hạ tầng đường sắt; (5) khai thác quỹ đất vùng phụ cận ga đường sắt; (6) yêu cầu ràng buộc về kết nối đường sắt với trung tâm các đô thị lớn, cảng biển, cảng hàng không và kết nối đường sắt với các phương thức vận tải hành khách công cộng tại các trung tâm đô thị nhằm gom và giải tỏa hành khách; (7) cơ chế rút ngắn thời gian đầu tư xây dựng dự án đường sắt.
Thứ hai, một số quy định trong Luật Đường sắt 2017 không còn phù hợp với thực tiễn cần phải sửa đổi, bổ sung như: (1) quy hoạch đường sắt; (2) hệ thống đường sắt và cấp kỹ thuật đường sắt; (3) quy định về phân loại tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt và phân loại ga đường sắt; (4) kết nối đường sắt; (5) phát triển công nghiệp đường sắt và đào tạo nguồn nhân lực đường sắt; (6) phương tiện giao thông đường sắt; (7) quy định về đánh giá, chứng nhận an toàn hệ thống đối với các tuyến đường sắt khi đầu tư xây dựng mới, nâng cấp; (8) kinh doanh đường sắt.
Thứ ba, một số quy định đã được điều chỉnh tại pháp luật khác có liên quan đến hoạt động đường sắt cần đưa ra khỏi Luật nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật như: (1) chính sách ưu đãi, hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu; (2) đất dành cho đường sắt; (3) vận tải động vật sống, hợp đồng vận tải hành khách, hành lý và hợp đồng vận tải hàng hóa; (4) quản lý, sử dụng nguồn thu từ phí, giá cho thuê hoặc chuyển nhượng có thời hạn tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt do Nhà nước đầu tư; (5) tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đường sắt.
Thứ tư, một số quy định còn mang tính chi tiết kỹ thuật chuyên ngành không thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên cần điều chỉnh theo hướng giao Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định như: (1) yêu cầu kỹ thuật ga đường sắt; (2) trách nhiệm bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt; (3) các chức danh nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu; (4) quy tắc giao thông đường sắt; (5) điều hành giao thông vận tải đường sắt, biểu đồ chạy tàu; (6) vận tải hàng siêu trường, siêu trọng, thi hài, hài cốt... để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, quy định tại một số điều, khoản của Chương về đường sắt đô thị, đường sắt tốc độ cao còn trùng lặp về nội dung, chưa rõ nội hàm và cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Để khắc phục những tồn tại và hạn chế nêu trên, nhằm tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chính sách phát triển đường sắt hiện đại, đồng bộ, bền vững, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện và kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước; khắc phục những tồn tại, bất cập về thể chế, tạo động lực mới cho sự phát triển của ngành đường sắt, thúc đẩy tính cạnh tranh của phương thức vận tải đường sắt; nâng cao hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân, cũng như công tác quản lý nhà nước về hoạt động đường sắt. Đảm bảo sự tương thích với các điều ước quốc tế về đường sắt mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Tăng cường hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đường sắt trên cơ sở chia sẻ về mục tiêu, lợi ích, giá trị, nguồn lực; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển đường sắt của các nước trên thế giới có điều kiện tương đồng với Việt Nam.
Kết quả biểu quyết của Quốc hội về Luật Đường sắt (sửa đổi). Ảnh: VGP.
Thực hiện sự phân công của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự án Luật Đường sắt 2025. Chính phủ đã tổ chức nhiều cuộc họp, thảo luận, đánh giá khách quan và thống nhất trước khi báo cáo Quốc hội. Tại kỳ họp thứ 9, ngày 27 tháng 6 năm 2025, Quốc hội đã thông qua Luật Đường sắt (sửa đổi), Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 36/2025/L-CTN ngày 30/6/2025; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 và thay thế Luật Đường sắt số 06/2017/QH14 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15 và Luật số 47/2024/QH15). Luật Đường sắt số 95/2025/QH15 gồm 04 chương, 59 Điều cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung (gồm 18 điều, từ điều 01 đến điều 18) quy định về: Phạm vi điều chỉnh; Đối tượng áp dụng; Giải thích từ ngữ; Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đường sắt; Chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước về phát triển đường sắt; Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đường sắt; phân loại đường sắt và cấp kỹ thuật đường sắt; Khổ đường sắt; Yêu cầu chung đối với kết cấu hạ tầng đường sắt; Quy tắc giao thông đường sắt; Hệ thống tín hiệu giao thông đường sắt; Hệ thống báo hiệu cố định trên đường sắt; Hệ thống cấp điện sức kéo đường sắt; Kết nối đường sắt; Tuyến đường sắt, ga đường sắt; Đường sắt giao nhau với đường sắt hoặc với đường bộ; Đường sắt và đường bộ chạy song song; Quản lý nhà nước về hoạt động đường sắt.
Chương II. Đầu tư xây dựng đường sắt (gồm 03 mục, 21 Điều, từ Điều 19 đến Điều 39): Mục 1: Quy định chung về đầu tư xây dựng đường sắt, quy định về: Quy hoạch đường sắt; Đầu tư xây dựng công trình đường sắt; Đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung với đường sắt. Mục 2: Đầu tư xây dựng dự án đường sắt quan trọng quốc gia, dự án đường sắt do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, quy định về: Điều chỉnh quy hoạch; Phân chia dự án đường sắt; Đầu tư dự án đường sắt bằng nguồn vốn ngoài nhà nước; Phát triển đô thị theo mô hình TOD đối với đường sắt; Trình tự, thủ tục đầu tư dự án đường sắt địa phương, dự án đường sắt địa phương theo mô hình TOD; Thiết kế kỹ thuật tổng thể; Thi tuyển phương án kiến trúc; Hoạt động thực hiện trước khi quyết định đầu tư dự án đường sắt; Thực hiện đồng thời một số công việc chuẩn bị dự án đường sắt; Lựa chọn nhà thầu; Lập tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu, chi phí vận hành và bảo trì công trình; Hợp đồng xây dựng; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Bảo đảm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mục 3: Đầu tư phát triển công nghiệp đường sắt, quy định về: Công nghiệp đường sắt; Yêu cầu về phát triển công nghiệp đường sắt; Đầu tư phát triển công nghiệp đường sắt; Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực phát triển công nghiệp đường sắt.
Chương III. Quản lý, khai thác đường sắt (gồm 03 mục, 16 Điều, từ Điều 40 đến Điều 55): Mục 1: Kết cấu hạ tầng đường sắt, quy định về: Tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt; Quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt; Quản lý, bảo trì công trình đường sắt dùng chung với đường bộ và công trình hạ tầng kỹ thuật đấu nối, sử dụng chung với công trình đường sắt; Kinh phí quản lý, bảo trì và bảo vệ tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt; Bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt; Phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố đối với kết cấu hạ tầng đường sắt; Kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt. Mục 2: Vận tải đường sắt, quy định về: Phương tiện giao thông đường sắt; Nhân viên đường sắt; Kinh doanh vận tải đường sắt; Vận tải phục vụ nhiệm vụ đặc biệt, an sinh xã hội và vận tải hàng hóa nguy hiểm. Mục 3: Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt, quy định về: Hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; Quản lý an toàn đường sắt; Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi xảy ra tai nạn giao thông đường sắt; Xử lý khi phát hiện sự cố, vi phạm trên đường sắt; Trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong hoạt động đường sắt.
Chương IV. Điều khoản thi hành, quy định về: Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, phụ lục của các luật có liên quan; Điều khoản áp dụng; Hiệu lực thi hành; Quy định chuyển tiếp.
Luật Đường sắt (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua mang ý nghĩa hết sức quan trọng và kịp thời đối với sự nghiệp ngành đường sắt Việt Nam cũng như kinh tế - xã hội đất nước. Trước hết, Luật Đường sắt cụ thể hoá chủ trương của Đảng về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại - một trong ba đột phá chiến lược đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thị phần vận tải đường sắt hiện nay rất thấp (chỉ chiếm dưới 1% trong tổng lượng vận tải), cho thấy tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác của ngành. Việc sửa đổi Luật Đường sắt nhằm tạo cơ sở pháp lý mới để “tái định vị” đường sắt thành một phương thức vận tải xương sống, đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống giao thông quốc gia.
Bài: Khoa Cảnh sát giao thông