Thứ Tư, 29/7/2026
“ĐOÀN KẾT – DÂN CHỦ - KỶ CƯƠNG – TRÁCH NHIỆM – HIỆU QUẢ”
Một số nội dung đáng chú ý của dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất Quốc hội khoá XVI (Tháng 8 năm 2026)

Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; ngày 20/6/2017, tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015; ngày 25/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội Khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015). Việc ban hành BLHS và các văn bản luật sửa đổi, bổ sung đã góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS năm 1999, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra và bảo đảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, quá trình thi hành BLHS đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập và tồn tại, hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung toàn diện đạo luật này để tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước và phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới.

Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các đại biểu
tại Hội nghị tham vấn chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Nguồn: Cổng TTĐT Bộ Công an.

1. Cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự án luật

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự được xây dựng dựa trên các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn sau:

1.1. Về cơ sở chính trị

Việc sửa đổi BLHS dựa trên các nghị quyết, kết luận, chỉ thị quan trọng của Đảng, đặc biệt là các định hướng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế nhà nước, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giảm dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình… Về cơ bản, có thể khái quát tinh thần chỉ đạo trong các văn bản được nêu trên đối với việc xây dựng dự án BLHS (sửa đổi) trong 05 định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, các quy định của BLHS phải bảo đảm tính nghiêm minh góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh; nhưng đồng thời, cũng thể hiện chính sách khoan hồng, tinh thần nhân văn, nhân đạo trong đấu tranh, xử lý tội phạm;

Thứ hai, BLHS phải góp phần thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước;

Thứ ba, BLHS phải góp phần nội luật hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, cam kết quốc tế và khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước trong tình hình mới;

Thứ tư, BLHS phải bảo đảm tính bao quát, tính toàn diện và tính dự báo, bảo đảm cơ sở pháp lý để phòng ngừa, đấu tranh và xử lý đối với mọi hành vi nguy hiểm đến mức phải xử lý hình sự, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới như công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, tội phạm trên không gian mạng...

Thứ năm, BLHS phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi và bảo đảm kỹ thuật lập pháp.

1.2. Về cơ sở pháp lý

Việc sửa đổi BLHS dựa trên nền tảng Hiến pháp năm 2013; các văn bản luật về tư pháp hình sự như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và hệ thống pháp luật chuyên ngành có liên quan như Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống ma túy, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Quản lý thuế, Luật Dữ liệu, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Trí tuệ nhân tạo...

Đây là những định hướng quan trọng cho việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới.

1.3. Về cơ sở thực tiễn

Qua gần 10 năm thi hành, nhiều quy định của BLHS hiện hành đã bộc lộ vướng mắc, bất cập; một số quy định chưa bao quát hết các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phát sinh; một số quy định chưa thật sự thống nhất, đồng bộ với pháp luật chuyên ngành, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật xử lý vi phạm hành chính và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên...

Từ những cơ sở thực tiễn nêu trên, có thể khẳng định rằng việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một yêu cầu khách quan, tất yếu, nhằm bảo đảm cho công cụ pháp lý quan trọng này luôn phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2. Quá trình xây dựng dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Công an đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như sau:

- Xây dựng Hồ sơ chính sách dự án BLHS (sửa đổi).

- Xây dựng Hồ sơ dự án Bộ luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật; tổ chức lấy ý kiến Nhân dân; tổ chức họp, lấy ý kiến Ban soạn thảo, Tổ biên tập; lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học trong từng lĩnh vực đối với dự thảo Hồ sơ dự án Bộ luật.

- Trên cơ sở các ý kiến tham gia, Bộ Công an đã nghiên cứu, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự thảo Hồ sơ dự án BLHS (sửa đổi) và gửi Bộ Tư pháp để thẩm định.

- Trên cơ sở ý kiến thẩm định, Bộ Công an đã hoàn thiện Hồ sơ dự án Luật và báo cáo trình Chính phủ.

- Ngày 08/7/2026, Chính phủ tổ chức Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, trên cơ sở kết luận của Thủ tướng Chính phủ và ý kiến của các thành viên Chính phủ, Bộ Công an đã tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện Hồ sơ dự án Bộ luật. Ngày 08/7/2026, Đảng uỷ Công an Trung ương phối hợp Đảng uỷ Bộ Tư pháp xin ý kiến Bộ Chính trị đối với một số nội dung lớn của dự án BLHS.

3. Bố cục dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Dự thảo Bộ luật gồm 03 phần, 25 chương, 417 điều. So với Bộ luật Hình sự hiện hành, dự thảo bỏ 06 điều luật, bổ sung 14 điều luật mới, sửa đổi 290 điều luật và giữ nguyên 113 điều luật.

4. Các nội dung cơ bản

4.1. Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tội phạm

Một là, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 13 tội danh, tập trung vào các nhóm tội trật tự quản lý kinh tế; trật tự, an toàn công cộng... Việc mở rộng này nhằm xử lý sớm các hành vi tuy mới ở giai đoạn chuẩn bị nhưng đã bộc lộ rõ ý chí phạm tội, có tổ chức, có công cụ, phương tiện, mục tiêu cụ thể… nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả xảy ra.

Hai là, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 30 tội danh, tập trung vào các lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, đất đai, lao động, an toàn lao động... Việc mở rộng này xuất phát từ thực tiễn nhiều hành vi vi phạm được thực hiện thông qua doanh nghiệp, công ty “vỏ bọc”, pháp nhân trung gian hoặc hệ sinh thái nhiều pháp nhân nhằm che giấu dòng tiền, phân tán trách nhiệm, hợp pháp hóa lợi ích bất chính…

Ba là, bổ sung quy định về nhóm tội phạm có tổ chức và bổ sung tội thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức, nhằm tạo cơ sở pháp lý để phòng ngừa, xử lý sớm tội phạm, đồng thời nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Bốn là, bổ sung 09 tội danh mới, tập trung vào các lĩnh vực: trật tự quản lý kinh tế, an ninh mạng, công nghệ cao, môi trường, an toàn công cộng, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt…; đồng thời bổ sung vào cấu thành của các tội danh hiện hành một số hành vi khách quan mới, đặc biệt là các tội danh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, lĩnh vực kinh tế, thương mại, lĩnh vực sở hữu trí tuệ... nhằm khắc phục các khoảng trống trong pháp luật hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm; đáp ứng các yêu cầu về hội nhập quốc tế, phục vụ công tác phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới.

Năm là, bỏ, gộp, tách một số tội danh để bảo đảm tinh gọn, thống nhất; bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự, phản ánh đúng bản chất, vai trò và mức độ nguy hiểm của từng nhóm hành vi.

4.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định về hình phạt:

Một là, thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với 06 tội, chỉ giữ lại hình phạt tử hình tại 04 tội gồm: phản bội Tổ quốc; giết người; khủng bố; sản xuất trái phép chất ma túy. Việc thu hẹp này thể chế hóa chủ trương của Đảng, phù hợp xu hướng lập pháp tiến bộ, nâng cao vị thế của Việt Nam trong hợp tác tư pháp hình sự, dẫn độ, tương trợ tư pháp.

Hai là, bỏ hình phạt cấm huy động vốn đối với pháp nhân thương mại phạm tội, vì hình phạt này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh toán, phục hồi, duy trì hoạt động, trả lương cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ bồi thường của pháp nhân.

Ba là, cơ bản nâng gấp đôi mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền trong cấu thành định tội, định khung hình phạt tại các tội danh, phù hợp với biến động giá cả, tiền lương, thu nhập, GDP bình quân đầu người và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.

Bốn là, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với 18 tội danh về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, xâm phạm hoạt động tư pháp… phù hợp định hướng giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt không giam giữ. Đồng thời, dự thảo quy định người bị kết án trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ mà vi phạm nghĩa vụ thì có thể bị chuyển phần hình phạt còn lại thành hình phạt tù, nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành bản án và tính nghiêm minh của pháp luật.

Năm là, bổ sung tình tiết tăng nặng “người phạm tội bỏ trốn và có quyết định truy nã” và “phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân”; sửa đổi tình tiết giảm nhẹ theo hướng ghi nhận việc thành khẩn khai báo ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Dự thảo cũng mở rộng phạm vi áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện theo hướng bỏ điều kiện “phạm tội lần đầu”, “có nơi cư trú rõ ràng”.

Sáu là, bổ sung biện pháp tư pháp tịch thu, tiêu hủy dữ liệu số trái phép; buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP, thu hồi khóa mật mã; khôi phục lại tình trạng ban đầu, đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trên không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

4.3. Sửa đổi, bổ sung các quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Một là, mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng công nghệ mới, thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo; đồng thời mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng vũ trang.

Hai là, bổ sung quy định về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm gắn với điều kiện cụ thể. Trên cơ sở đó, dự thảo bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, đã khắc phục xong hậu quả và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Dự thảo cũng quy định trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nếu có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì có thể miễn trách nhiệm hình sự, nhằm hạn chế phát sinh thủ tục tố tụng không cần thiết, bảo đảm chính sách nhân đạo, nhân văn.

4.4. Sửa đổi các quy định của Bộ luật để bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi và kỹ thuật lập pháp:

Dự thảo bổ sung 01 điều về giải thích từ ngữ để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật; đồng thời, chỉnh lý thuật ngữ, dẫn chiếu để thống nhất với pháp luật chuyên ngành; bỏ một số quy định thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự; điều chỉnh lại bố cục của một số tội danh để bảo đảm thống nhất, phù hợp về kỹ thuật lập pháp./.

Bài: Trung tá Trịnh Xuân Hùng, Cán bộ Phòng HCTH

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi