Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên những bước ngoặt vĩ đại, những mốc son chói lọi trên hành trình 96 năm đồng hành cùng dân tộc.
Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Tham gia Hội nghị thành lập Đảng có các đồng chí: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng); Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại biểu An Nam Cộng sản Đảng). Đại biểu Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp; ngoài ra còn có hai đồng chí Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu là đại biểu chi bộ của những người cộng sản Việt Nam ở nước ngoài. Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức Đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III tháng 9-1960, đã quyết định lấy ngày 3-2 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một dấu mốc lớn, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, đã xác định cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.
Sự ra đời của Đảng là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra một thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chương trình nghệ thuật đặc biệt "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng".
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945
Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939): Bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ, quần chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945) dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với sự đoàn kết, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng viên cộng sản, chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.
Thắng lợi của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1945-1975)
Trong những năm 1945 - 1946, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên (9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của Nhân dân, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế - văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội; ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề, đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật. Với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại.
Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của Nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.
Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam.
Thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay
Ngay sau khi đất nước vừa được thống nhất, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: Hậu quả chiến tranh rất nặng nề, phải khắc phục lâu dài; chủ quyền biên giới quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, phải kiên quyết bảo vệ, củng cố; các thế lực thù địch bao vây, cấm vận mọi bề, phải kiên trì đấu tranh gỡ bỏ; tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong điều hành kinh tế - xã hội, cộng với những hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ, cần được đổi mới; khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện và ngày càng trầm trọng, phải nỗ lực khắc phục, vượt qua. Đây cũng là thời điểm tình hình thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho cách mạng Việt Nam.
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện. Một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, cải tổ. Trước yêu cầu cấp thiết “đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đất nước và chế độ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, kiên trì tổng kết thực tiễn, vững tin ở sức mạnh của nhân dân, quả cảm dứt bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, quyết tâm khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tìm con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng. Với tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quyết tâm của Đảng thể hiện tại Đại hội VII (năm 1991), khi khẳng định dứt khoát: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta” [1].
Công cuộc đổi mới được tiếp tục triển khai với sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam đã thu được kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng quan trọng để chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế.
Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng, hiện thực hóa khát vọng, ý chí của toàn Đảng, toàn dân xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mỗi thắng lợi to lớn luôn mở ra một thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi, cũng đồng thời đặt ra trọng trách mới, cao hơn đối với toàn Đảng, toàn dân. Để tiếp tục tăng cường bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên vững chắc trong kỷ nguyên mới, đòi hỏi Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa chắc vào sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ, quy tụ cao độ sức mạnh của nhân dân vì mục tiêu mang lại lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân; kết hợp và phát huy cao độ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong kỷ nguyên mới; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống.
Đồng thời, Đảng phải tăng cường bản lĩnh, ý chí và tinh thần kiên quyết hành động của từng cán bộ, đảng viên ở mỗi vị trí công tác của mình; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu niềm tin và khát vọng phát triển. Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng minh, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, 96 năm đồng hành cùng dân tộc, Đảng luôn phụng sự Tổ quốc, gắn bó mật thiết với Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ của cách mạng Việt Nam, nhìn lại mỗi kỷ nguyên rực rỡ mở ra cho dân tộc Việt Nam ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tự hào về Đảng quang vinh, dân tộc Việt Nam anh hùng, Bác Hồ vĩ đại luôn tiếp thêm cho mỗi cán bộ, đảng viên đồng tâm nhất trí cùng toàn Đảng, toàn dân vững bước thành công trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 109
Nguồn: Báo CAND